Tứ phủ thánh mẫu

Điện thoại: 0966 662 332

Email: tuphuthanhmau0966662332@gmail.com

Trang chủ»Đạo mẫu - tứ phủ»Ngũ vị tôn quan»SỰ TÍCH QUAN LỚN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

SỰ TÍCH QUAN LỚN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

 

Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh


 + Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh (Đền Ninh Giang - Đền Kì Cùng)

 

Tên đầu đủ: Quan Đệ Ngũ Tuần Tranh.Ngoài ra còn gọi Quan Lớn Tuần,Quan Tuần,Quan Tuần Tranh

Quan Lớn Tuần Tranh là Quan thứ năm trong Ngũ vị Tôn Ông.

Tước phong: Đệ ngũ tôn quan thượng đẳng tối linh thần – Cao Lỗ đại vương – Đệ ngũ Tuần Tranh.

Nhiệm vụ: Ngọc Hoàng ban cho Ngài thống lĩnh thiên địa binh thay quyền tam tứ phủ đại diện cho con người (nhân vi chúa tể)

Thu chấp kim ngân tài mã giải oan nghiệp sớ cho trần gian.

 

Thân thế: Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh.Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình.Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát) trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (Nay là Hải Dương) Ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh.Ông đã lập được nhiều công Lao to lớn nên được sắc phong công hầu.Tại quê nhà ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ Của quan huyện ở đó nhưng vốn không hạnh phúc với cảnh “chồng chung” nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho Ông biết là nàng đã có chồng.Vậy nên Quan Lớn Tuần Tranh vẫn đinh ninh đó là một tình cảm đẹp hẹn ngày đưa nàng về làm vợ

Đến khi viên quan huyện kia biết chuyện vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình.Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan bị đem đày Lên chốn Kì Cùng Lạng Sơn.Tại đây ông đã tự sát mong rửa oan chứng tỏ mình vô tội ông hoá xuống dòng sông Kì Cùng.Về lại nơi Quê nhà ông hiện thành đôi bạch xà thử lòng ông bà nông lão sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình.Nhưng khi Quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi Hai ông bà thương xót xin thả rắn xuống dòng sông Tranh lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ Dội.Đến thời Thục Phán An Dương Vương vua tập hợp thuyền bè để chống Triệu Đà ở ngay bến sông Tranh nhưng tại chỗ dòng xoáy Đó thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng.Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì Lập tức sóng yên bể lặng hơn nữa quân sĩ ra trận cũng được thắng to.Ghi nhớ công đức vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu.Sau này ông còn hiển thánh linh ứng có phép nhà trời cai quản âm binh ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà dẹp hết những kẻ hại Nước hại dân.

 

Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông cùng với Quan Lớn Đệ Tam Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng được Nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ.Tuy đứng trong hàng năm của Ngũ Vị Tôn Ông ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về Đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ bất cứ dịp tiệc đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Tranh về ngự).Khi ngự đồng ông mặc áo lam Thêu rồng hổ phù; làm lễ tấu hương khai quang chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao.Khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc Nào sau khi thỉnh các quan lớn về đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới Được đem đi hoá.

Đền thờ chính thờ Quan Lớn Tuần Tranh

Quan Lớn Tuần Tranh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất:

+ Đền Ninh Giang hay Đền Quan Lớn Tuần Tranh lập bên bến sông (bến đò) Tranh ở Ninh Giang Hải Dương.

Đây là nơi chính quán quê nhà của ông nơi ông trấn giữ duyên hải sông Tranh cũng là nơi ông hiển tích.

+ Đền Kì Cùng lập bên bến sông Kì Cùng qua cầu Kì Lừa (là nơi ông bị lưu đày).Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/5 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và bảo nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này)ngoài ra vào ngày 14/2 các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan.

Một sự tích khác về Quan Lớn Tuần Tranh

Theo truyền thuyết ngày xưa lưu truyền tại khu vực Đền Ninh Giang ngày nay:Ngày xưa ở làng Lạc Dục huyện Tứ Kỳ có hai vợ chồng nhà nghèo đã già mà chưa có con.Một hôm người chồng cuốc vườn bắt được ở cạnh bụi cây 2 quả trứng ngỡ là trứng chim nên đem đi cất cẩn thận.Ngờ đâu 2 quả trứng nở thành 2 con rắn.Người vợ sợ quá định đem giết đi nhưng người chồng không nghe nói rằng có lẽ trời cho ta khuây khỏa cảnh già đây.Quả nhiên hai con rắn quấn quýt với 2 vợ chồng ông già.Một hôm ông cuốc đất 1 con nhảy vào đùa nghịch bị ông cuốc cụt đuôi (Về sau khi linh ứng dân làng lập miếu thờ gọi là miếu Ông Cộc Ông Dài).Nhưng phải một nỗi 2 con rắn ấy chỉ ăn gà thôi.Ông già đi ăn trộm gà cho chúng ăn nhiều rồi sau sợ hàng xóm biết thì phải tội nên đành phải mang 2 con rắn vứt xuống sông Tranh.Chỗ vứt 2 con rắn ấy về sau sóng xoáy dữ lắm.Một hôm có bà công chúa muốn qua sông nhưng nước xoáy dữ thuyền không qua được.Sau theo lời quan dân sở tại đòi 2 vợ chông ông già đến hỏi chuyện.Bà lão sợ quá bèn lấy 2 nắm cơm vứt xuống sông và nói rằng "con ơi con có thương mẹ thì đừng nổi sóng nữa để mẹ khỏi tội".Bà vừa nói xong thì sóng yên lặng.

Về sau có ông quan phủ tên là Trịnh Thường Quân được bổ về Ninh Giang.Ông lấy một người vợ lẽ đẹp lắm.Một hôm bà đi chơi thuyền trên sông Tranh gặp một người dưới nước lên đòi lấy bà làm vợ.Bà nhất định không nghe.Đêm về đang ngủ bỗng lại thấy người đó hiện vào phòng nhất định đòi lấy.Bà đem chuyện này nói với quan Phủ.Quan Phủ cũng lấy làm lạ nên phòng giữ cẩn thận. Một hôm ngài có việc quan đi vắng đến lúc về thì thấy buồng không.Quan Phủ lấy làm phiền lắm bèn từ chức ngày ngày ra bờ sông Tranh tìm vợ.Sau gặp một ông Tiên tên là Quỷ Cốc ở miền Hải Quốc mách rằng bà Phủ đã bị Hoàng tử thứ 5 của Vua Thủy bắt xuống làm vợ rồi.Tiên Quỷ Cốc nghĩ thương tình quan Phủ nên giúp sức cho xuống được điện Vua Thủy mà kêu Tiên cũng kêu hộ.Sau Vua Thủy cho cả hai vợ chồng về rồi bắt Hoàng tử thứ 5 đem đày ra sông Tranh.Từ đó dân ở 2 bên bờ thấy có nhiều điều kỳ dị nên lập đền thờ gọi là đền Tranh.Dân quanh bến hoặc thuyền bè xuôi ngược qua đây nếu gặp sóng gió đều kêu cầu sóng gió sẽ êm.Ai có cầu kiểu gì cũng đều linh ứng.Thỉnh thoảng những đêm trong sáng có người trông thấy một thanh niên mũ áo từ trong đền đi ra.Người ta liền kháo nhau đó là Quan lớn Tuần Tranh.Về sau do có nhiều công giúp dân buôn thuyền bán bè qua sông bình an may mắn nên vị thần được tôn là: Quan "đệ ngũ Tranh Giang Hoàng hợp tôn thần".Đền Tranh có tiếng linh thiêng cầu việc gì được việc ấy nên khách đến lễ ngày càng đông

 
- Văn QUAN TUẦN TRANH
Trong khi thỉnh ông về,văn thường hát:
“Uy gia lẫm liệt tung hoành
Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài
Ninh Giang chính quán quê nhà
Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng”
- Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng:
“Nào ngờ đâu đất trời thay đổi
Người anh hùng mang tội xiềng gông
Tháng năm đày chốn Kì Cùng
Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân
Trước cung điện triều đình tra xét
Bắt long hầu truyền hết mọi nơi
Oan vì bướm lả ong lơi
Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung
Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt
Nỗi oan này có thấu cao minh
Áo bào đã nhuộm chàm xanh
Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường”
- Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông:
“Loa đồng hỏi nước sông Tranh
Đao thiêng dẹp giặc anh hùng là ai
Sông Tranh đáp tiếng trả lời
Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang”
- Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng:
“Ông về truyền phán các quan
Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn
Quân thuỷ quân bộ đôi hàng
Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra
Lệnh truyền thiên đội vạn cơ
Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh
Trước là bảo hộ gia đình
Sau ra thu tróc tà tinh phen này
Ra oai trần thế biết tay
Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian
Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”
 

VĂN QUAN TUẦN TRANH
 
Đệ tử con khấu đầu cung thủ
Tiến văn chầu quan đệ ngũ tuần tranh
Dọc
Ninh Giang chính quán quê nhà ,
Danh lam thắng tích một toà ngôi cao.
Uy ra lẫm liệt tung hoành
Trừ tà sát quỷ nổi danh tướng tài.
Cảnh Thiên thai Quan Tuần ngự giá,
Các tiên nàng thứ tự dâng huê.
Chầu thôi lại trở ra về
Truyền quân dâng nước Thuỷ tề chan chan .
Cảnh am thanh nhiều bề lịch sự
Vốn đặt bầy tự cổ vu lai.
Có phen xuất nhập trang đài,
Đào lan quế huệ xum vầy xướng ca.
Phú:
Nước Văn Lang vào đời Thục trị,
Giặc Triệu Đà cố ý xâm lăng,
Triều đình ra lệnh tiến binh,
Thuyền bè qua bến sông Tranh rợp trời.
Bỗng nổi trận phong lôi bão táp
Ba quân đều sợ hãi khiếp kinh
Hỏi ra mới biết sự tình
Thiết bày hương án lễ trình bên sông.
Mời trưởng lão trong vùng thôn xóm
Khấn vừa xong gió lặng sóng yên
Uy linh sự đã hiển nhiên
Lệnh truyền dân xã lập đền bên sông.
Gương anh khí sáng ngời muôn thủa
Trí hào hùng rạng rỡ non sông
Vinh quang thay nòi giống tiên rồng
Muôn dân còn ghi nhớ quan tuần tài cao.
Đấng anh hào cổ kim lừng lẫy
Khắp mọi miền đã dậy thần cơ
Nhân dân trung nam bắc phụng thờ
Ninh Giang lại nổi đền thờ Tuần Tranh.
Công hộ quốc gia phong thượng đẳng,
Tước phong hầu truy tặng Đại vương,
Bảng vàng thánh thọ vô cương
Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai.
Thơ:
Sông Tranh ơi hỡi sông Tranh,
Non nước còn ghi trận tung hoành,
Lẫm liệt oai hùng đao tráng sĩ,
Ngàn thu ghi nhớ dấu oai linh.
Hỡi Ai về qua bến sông Tranh,
Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời.
Dẫu rằng nước chảy hoa trôi,
Sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi.
Loa đồng hỏi nước sông Tranh,
Long đao cứu nước, anh hùng là ai?
Sông Tranh đáp tiếng trả lời,
Là Quan đệ ngũ, chính người Ninh Giang .
Oán:
Nào ngờ đâu khi đất trời thay đổi,
Người anh hùng cổ nặng xiềng gông.
Ngày hai mươi lăm tháng năm, Quan lớn bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng.
Quan lớn oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái ân.
Trước cung điện, triều đình tra xét,
Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi.
Ngài oan vì ong bướm lả lơi,
Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung.
Lệnh viễn xứ sơn cùng, thuỷ kiệt,
Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh.
Hoàng bào đã nhuộm chàm xanh
Tấm thân đành chịu nhục vinh lẽ thường.
Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ
Hỏi trăng già có tỏ trăng ơi
Hỏi mây hỏi gió hỏi trời
Hỏi rằng nguyệt lão trêu người vì đâu.
Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi,
Vẫn vươn mình há ngại phong ba.
Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta,
Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng .
Thà thác vinh còn hơn sống nhục,
Nước sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn .
Kiệt cùng hiu hắt trăng non
Sông Cùng trong đục nước tuôn đôi dòng
Ngẫm cảnh vật lòng đau như cắt
Nợ trần hoàn quyết dứt cho xong
Lòng riêng đã quyết với lòng
Mượn dây oan nghiệt cho xong tội trời
Rừng hoa cỏ thương người đã khuất
Bỗng đùng đùng gió giật mưa sa
Nỗi oan chuyển động đất trời
Dây oan kia kết lại thành đôi bạch xà .
Đất Ninh Giang tìm nhà hữu phúc
Thử lòng người trong lúc lánh thân
Tháng hai vừa tiết trung tuần
Thử lòng ông lão mộng thần ứng ngay
Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ
Đôi bạch xà tựa cửa hai bên
Long xà kì dị thảo hiền
Từ khi xuất hiện vui thêm cửa nhà
Ba tháng sau đàn gà đã hết
Thương rắn hiền không biết lo sao
Khó khăn âu cũng tính liều
Ông bà nông lão sớm chiều đông tây
Bỗng một buổi tai bay hoạ rủi
Hai ông bà mắc tội cửa công
Lệnh nghiêm sấm sét đùng đùng
Tậu gà nuôi rắn không dung tội này
Lệ nuốt lệ đắng cay xiết kể
Thương rắn thần tựa thể thương con
Khấu đầu tạ trước công môn
Xin đem đôi rắn thả luôn giữa dòng
Cơn phong vũ ầm ầm nổi dậy
Sóng bạc đầu nước xoáy mênh mông
Long xà thoát xuống thuỷ cung
Nước rẽ đôi dòng cuồn cuộn chứa chan
Khắp duyên hải sấm ran từ đấy
Bóng long hầu nổi dậy nơi nơi
Những phường bán nước hại nòi
Gian tà quỷ quyệt tội trời không tha
Dìm đáy nước về toà thuỷ tộc
Tội gia hình bõ lúc sai ngoa
Lẽ thường tội báo oan gia
Hại nhân nhân hại sự đà không sai
Nước Văn Lang vào đời Thục trị,
Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng,
Triều đình ra lệnh tiến binh,
Thuyền bè qua bến sông Tranh rợp trời.
Bỗng nổi trận phong lôi bão táp
Ba quân đều sợ hãi khiếp kinh
Hỏi ra mới biết sự tình
Thiết bày hương án lễ trình bên sông
Mời trưởng lão trong vùng thôn xóm
Khấn vừa xong gió lặng sóng yên
Uy linh sự đã hiển nhiên
Lệnh truyền dân xã lập đền bên sông.
Công hộ quốc gia phong thượng đẳng,
Tước Long hầu truy tặng Đại vương,
Bảng vàng thánh thọ vô cương
Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai.
Kiều dương:
Trên bát ngát long chầu hổ phục
Dưới tam đầu cửu vĩ chầu lên
Lân rờn phượng múa đôi bên
Quan tuần trắc giáng ngự lên sập rồng.
Sắc vua phong kiêm chi tam giới
Hay tróc tà sát quỉ trừ tinh
Quan tuần vạn phép muôn linh
Quyền ngài cai quản âm binh nhà trời.
Ngự đồng ai mình quyền bóng quý
Nương uy trời thụy khí đoan trang
Quan tuần hiển hách uy vang
Ra tay tế độ trần gian được nhờ.
Lúc bấy giờ ngài ra uy hùng hổ
Nương oai trời cứu độ muôn dân
Đùng đùng nổi trận phong vân
Ngự đồng ban phép cứu dân trừ tà.
Cánh dấu thiêng đem về mà trấn
Ai có tà xin quan trục tà ma
Dù ai vận hạn chưa qua
Kêu quan đệ ngũ bệnh đà tan ngay.
Nay dốc lòng ơn ông vạn bội
Hoặc ai mà nhầm lỗi truyền tha
Hay là cách trở sơn hà
Cầm cờ chỉ núi núi đà tan không .
Tiếng nức danh tung hoành dũng lược
Cảnh non bồng nước nhược bồng lai
Khi chơi bạn trúc bạn mai
Bạn loan tiệc ngọc xum vầy xướng ca.
Các bộ nàng ra tay bẻ quế
Quan dạo chơi thành thị hồ tiên
Ba ngàn thế giới dư thiên
Tiếng quan đệ ngũ khắp miền đông tây.
Bốn phương trời đội ơn đức cả
Ai có lòng quan hỉ xả từ bi.
Thiên sinh văn võ gồm tài
Quan tuần lịch sự đáng trai anh hùng.
Một nguyện ngài giáng phúc trừ tai
Đồng gia bản hội ai ai cũng thịnh cường.
Nguyện thứ hai buôn bán đủ trăm đường
Tiền tài lưu loát bạc vàng đề đa.
Nguyện thứ ba công hầu các lễ
Hộ tiểu con phú quí sang giàu
Độ tiểu con nay sống dài lâu
Nhờ ơn quan lớn phúc lâu giầu bền.
Nguyện thứ tư cho quốc phú dân an
Qua cơn binh lửa dân an thái bình.
Nguyện thứ năm ông giáng phúc bản đền
Thủ nhang họ…… cung văn nương nhờ.
 
 

Đạo mẫu Việt Nam

Liên hệ

Trang chuyên chia sẻ tâm linh cho người Việt

  

zalo